
Lời nói đầu:
Bài viết này chia sẻ quan điểm cá nhân của chúng tôi về một số điểm tương đồng và khác biệt giữa Đạo Phật và các tôn giáo khác. Các nhận định không nhằm mục đích phản bác, so sánh đúng–sai tuyệt đối giữa các hệ tín ngưỡng. Mục đích của bài viết là góp thêm một góc nhìn để bạn tham khảo và tự mình chiêm nghiệm. Mỗi người đều có tự do tín ngưỡng riêng và chúng tôi rất tôn trọng điều đấy.
Chúng tôi muốn chia sẻ nhiều chút quan điểm cá nhân của chúng tôi về vấn đề Tôn giáo nói chung và Đạo Lão cùng Đạo Phật nói riêng với bạn.
Chúng tôi nghĩ mỗi người sẽ có những trải nghiệm riêng và những nhận thức khác nhau nên rất khó để trao đổi về những vấn đề mang tính niềm tin cá nhân như tôn giáo. Tuy nhiên, chúng tôi mạn phép chia sẻ quan điểm cá nhân của chúng tôi, có thể không hợp với bạn nhưng có thể bạn sẽ có thêm một góc nhìn khác về đề tài Tôn giáo.
1. Các nhóm tôn giáo và mục đích đời người
Tôn giáo trên thế giới thì có nhiều nhưng chúng tôi tạm chia thành ba nhóm chính: Nhóm 1 tôn thờ Thượng Đế/các vị thần (Kito Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo, Ấn Độ Giáo,…); nhóm 2 hướng dẫn cách đối nhân xử thế (Đạo Giáo, Nho Giáo, Chủ nghĩa Khắc Kỷ,…); nhóm 3 hướng dẫn cách giải thoát (Đạo Phật). Thực ra thì Đạo Lão có bao hàm cả mục giải thoát nhưng chủ yếu là dạy cách đối nhân xử thế nên chúng tôi xếp vào nhóm 2.
Chúng tôi cũng xin chia sẻ bốn mục đích của đời người theo quan điểm của Kinh Vệ Đà có nguồn gốc từ Ấn Độ là: Khoái Lạc (Kama), Mưu Sinh (Artha), Chuẩn Mực (Dharma) và Giải Thoát (Moksha).
Ba mục đích đầu sẽ cần đến hai nhóm tôn giáo đầu để làm định hướng, còn mục đích cuối thì phải cần đến nhóm 3 và trên thực tế nhóm 3 chỉ có duy nhất một thành viên là Đạo Phật. Đạo Phật là tôn giáo duy nhất mà mục đích chính là hướng dẫn cách thoát khỏi luân hồi.
Nếu mục đích của đời bạn nằm trong ba mục đích đầu thì bạn có thể không cần biết đến Phật Pháp nhưng một khi bạn đã biết đến Phật Pháp rồi thì bạn sẽ thấy Phật Pháp bao trùm cả hai nhóm tôn giáo trước.
Chúng tôi không tìm hiểu kỹ về Phật Giáo Phát Triển (Đại Thừa) và Phật Giáo Mật Tông, hai nhánh còn lại trong ba nhánh chính của Phật Giáo nhưng có tìm hiểu qua thì thấy đối với quan điểm cá nhân của riêng chúng tôi, Giáo lý Phật Giáo Nguyên Thủy đúng đắn hơn, nên những trao đổi sau đây của chúng tôi cũng như Phật Pháp chúng tôi nói đến trong website này, bạn hiểu là chúng tôi đang nói về Phật Giáo Nguyên Thủy với Tam Tạng tiếng Pali.
2. Đạo Phật và Đạo Lão
Trong Tạng Kinh Pali bạn sẽ hiểu được rằng Thượng Đế thực ra là vị Đại Phạm Thiên đầu tiên được sinh ra, ngài không phải là người tạo ra Vũ Trụ. Bạn cũng sẽ hiểu được thế giới hình thành và diệt vong cụ thể chi tiết như thế nào chứ không phải chỉ gói gọn trong “Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị” hay tạm hiểu là Thái Cực sinh Lưỡng Nghi. Phật Pháp cũng cho ta hiểu rõ về các cõi giới khác trong Vũ Trụ để biết Vũ Trụ này thực tế rộng lớn ra sao để chúng ta thôi ảo tưởng bản ngã của chúng ta lớn cỡ nào. Chúng tôi sẽ gửi link trích dẫn những bài Kinh hoặc bài viết liên quan tới những chủ đề này tại link RD2.
Đạo Lão nói đúng về Thái Cực và Âm Dương, hướng dẫn người ta cách sống cân bằng Âm Dương, cũng nói về cách thoát khỏi Âm Dương để trở về với Thái Cực bằng con đường Vô Vi.
Phật Pháp cũng nói về Vô Vi, nhưng Phật Pháp còn nói nhiều hơn thế, Phật Pháp nói về luân hồi và cách thoát khỏi luân hồi. Trong Kinh Pali, Phật thuyết Vô Vi chính là đoạn tận tham sân si. (Tham khảo tại link RD2)
So với các tôn giáo khác, chúng tôi đánh giá cao Đạo Giáo vì cảm thấy nó phản ánh gần chính xác bản chất vũ trụ – chỉ sau Đạo Phật – theo quan điểm riêng của chúng tôi. Vậy lý do của chúng tôi là gì?
Cùng giảng giải về một vấn đề vô cùng quan trọng là Giải Thoát, nhưng một vị thầy chỉ giảng giải chung chung trong ba ngày và để lại cho bạn một giáo trình khoảng ba chục trang rồi để bạn tự mò mẫm đường đi, so với một vị thầy dành hơn 40 năm cuộc đời để giảng dạy và để lại giáo trình gần 40 quyển dày cộp, giải thích cặn kẽ từng tiến trình, có ví dụ cụ thể, có nhiều câu chuyện hấp dẫn, thậm chí sau này khi bạn biết đến khoa học thần kinh não bộ rồi, bạn đối chiếu chứng cứ khoa học thực tế với giáo trình xuất bản từ 2000 năm trước thì thấy khớp kinh ngạc, bạn nghĩ bạn sẽ sử dụng giáo trình nào cho chặng đường dài mình dự định đi?
Theo chúng tôi, Thái Cực là Niết Bàn, Lưỡng Nghi Âm Dương là vòng Luân Hồi và phương tiện để từ Lưỡng Nghi về lại Thái Cực, từ Luân Hồi trở lại Niết Bàn chính là qua “Vô Vi” của Đạo Lão hay là “Sự không nói thầm trong não” của Đạo Phật. Đó là hai cách diễn đạt khác nhau của hai nhà tư tưởng vĩ đại cho cùng một chủ đề vĩ đại – Sự Giải Thoát.
Bằng cách luyện tập không còn những lời nói thầm trong não, ta sẽ tác động vào hệ thần kinh đối giao cảm để sản sinh ra các hormone mang lại cảm giác an lạc, luyện tập thuần thục thì ta sẽ chứng được tứ thiền rồi tam minh, từng cấp bậc trong con đường tu tập được Phật chỉ ra rõ ràng để ta có thể tự đánh giá được mình đang ở bậc thang nào trên con đường tu tập. Rất rõ ràng và cụ thể. Link sách về não bộ và Thiền Định, cùng các cấp bậc tu tập các bạn có thể tham khảo tại link RD1, RD2.
3. Giới Luật
Giáo trình Phật Pháp cũng dựa vào căn cơ từng người để có những cách giảng dạy phù hợp. Phật giáo chia các đệ tử thành hai nhóm: nhóm cư sĩ và nhóm xuất gia. Nhóm cư sĩ tại gia thì Phật hướng dẫn cách đối nhân xử thế cụ thể với từng nhóm đối tượng như thế nào: cha mẹ, vợ chồng, con cái, thầy trò,…(bạn có thể tham khảo link BS1) còn với nhóm Tỳ Kheo xuất gia tức nhóm tu tập chuyên sâu thì yêu cầu vô cùng nghiêm ngặt cả một tạng 9 quyển là Tạng Luật.
Nhóm cư sĩ kiểu như nhóm học tại chức, ngày đi làm, tối tranh thủ đi học, vướng bận gia đình nên nhiều khi có hôm còn nghỉ học. Nhóm còn lại như nhóm sinh viên chính quy, ngày học tập trung, tối không vướng bận gì gia đình nên lại luyện tiếp. Yêu cầu của nhóm chính quy cao hơn nên tỷ lệ đạt yêu cầu của nhà tuyển dụng cao hơn, nhóm tại chức thì tỷ lệ đạt thấp hơn nhưng vẫn tốt hơn rất nhiều so với nhóm không đi học. Kiểu kiểu thế.
Cốt lõi của Phật Pháp thực ra chính là Giới. Giới còn thì Phật Pháp còn, Giới mất thì Phật Pháp tan. Giới Luật chính là GIỚI hạn và kỷ LUẬT. Bạn tự kỷ LUẬT mình để không vượt qua các GIỚI hạn. (bạn có thể tham khảo link WRA3)
Nói thêm 1 chút về âm nhạc và phim ảnh. Chúng tôi đã từng rất say mê âm nhạc và phim ảnh, nhưng sau khi đọc Giới Luật và cuốn về thần kinh não bộ của Thầy Thích Thông Triệt, chúng tôi mới hiểu ra những thứ tưởng là lành mạnh đó hóa ra cũng là một điều nên tránh và hiểu tại sao Giới Luật của Phật lại cấm nghe nhạc, xem kịch,… Vì những thứ tạo âm và sắc đó có độ gây nghiện rất mạnh, nó tạo nên những lời nói thầm hoặc nhịp điệu lặp đi lặp lại trong não. Và nói thầm là ngọn nguồn của lửa địa ngục, nó tác động vào hệ thống thần kinh giao cảm, gây ra những hormone có hại cho cơ thể.
Âm nhạc ngày xưa khi chưa bị biến đổi tần số thì ở một mức độ nhận thức nào đó vẫn là một điều tốt đẹp với khả năng chữa lành của nó. Nhưng ngày nay nó là bị đánh tráo bản chất bằng cách hầu hết đã bị thay đổi tần số từ 432Hz thành 440Hz và có thể trở nên nguy hiểm. Tần số 432Hz là tần số của chữa lành, còn tần số 440Hz lại là tần số của kích thích, của khổ đau. Thế giới này là năng lượng và các tần số ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, nên khi bạn tìm đến âm nhạc với mong muốn cộng hưởng với tần số chữa lành thì có thể bạn vô tình đang cộng hưởng với tần số khổ đau, nên hãy cẩn trọng với loại âm nhạc bạn đang nghe. Bạn có thể tham khảo link RD2.
4. Luật Hấp Dẫn
Theo quan điểm của Phật Giáo thì không có linh hồn cố định nên có thể bạn cần cẩn thận với các hệ tư tưởng dựa trên khái niệm Linh Hồn bất tử mà thực chất là Bản ngã ví dụ như Luật Hấp Dẫn, linh hồn ngự trị đời đời bên Chúa,… Theo góc nhìn Phật giáo Nguyên Thủy, khái niệm “Linh hồn bất tử” có thể là một cách hiểu khác của bản ngã được tiếp nối qua nhiều đời. Nhưng nếu hiểu Linh hồn chỉ là tên gọi khác của Dòng Tâm Thức từ kiếp này sang kiếp khác thì có thể điều này không thành vấn đề phải thảo luận. Chúng tôi có đề xuất một bản Từ điển Tâm linh tại WRS9 để đối chiếu các khái niệm thường gắn với bản ngã (trong New Age, tâm lý học hiện đại…) sang những từ thuần Phật giáo Nguyên thủy (Pali) hoặc mang tính vô ngã – tuệ giác – hành trì để bạn tham khảo.
Luật Hấp Dẫn là một tư tưởng cần được cân nhắc kỹ trước khi áp dụng, vì nó dựa vào một hiện tượng Vũ Trụ có thật là Thức (Ý thức) sinh ra Sắc (Hình tướng) nhưng lại có thể được dùng để thúc đẩy bản ngã và lòng tham của con người bằng cách hun tập thêm nhiều Thức để tạo ra những Sắc theo ý mình. Luật Hấp Dẫn có thể đúng ở khía cạnh là nếu ta dành phần lớn Thức của mình vào mong cầu một việc gì đó tức là ta đang gieo Nhân (ví dụ khởi lên mong muốn mua một món đồ), cộng thêm với Duyên (Phúc Đức) hội đủ (đủ Phúc để tạo ra tiền để mua đồ), vậy không sớm thì muộn, đủ Nhân và Duyên thì Quả sẽ chín, việc ta mong cầu cũng sẽ đến với ta (mua được thứ mình muốn).
Yếu tố đủ Phúc Đức rất quan trọng mà thường không được những người nói về Luật Hấp Dẫn đề cập tới, vì nếu không có Phúc Đức thì bạn có manifest (mong cầu biến điều ước thành sự thật) thế nào đi chăng nữa cũng không thành sự thật được. Nó giống như một người nghèo nhìn một món đồ đắt tiền, rất thèm muốn nhưng không có tiền để mua, thì có thèm nữa thèm mãi thì món đồ đó cũng không bao giờ là của họ được.
Điểm quan trọng chúng tôi muốn nói ở đây là, thường thì thứ ta mong cầu xuất phát từ lòng tham của ta. Ta càng thấy Luật Hấp dẫn đúng, ta càng sử dụng nhiều, lòng tham của ta càng mạnh, ta chỉ càng thêm khổ đau mà thôi.
5. Các tôn giáo thờ Thượng Đế
Với quan niệm Linh hồn ngự trị đời đời bên Chúa, chúng tôi cũng xin phép được nêu ra quan điểm cá nhân của mình. Linh hồn ngự trị bên Chúa có thể đúng nhưng đời đời thì không. Vì sao vậy? Theo Tạng Kinh Pali đã đề cập ở trên, bạn sẽ hiểu rằng, Thượng Đế (hoặc Chúa, hoặc một tên gọi nào khác tùy theo Tôn Giáo) là vị Đại Phạm Thiên đầu tiên được sinh ra nên Ngài hiểu nhầm mình tạo ra Vũ Trụ và các vị sinh ra sau cũng hiểu nhầm như vậy.
Tôn giáo thờ Thần khuyên mọi người sống tốt đời đẹp đạo thì sau khi chết sẽ được hưởng phúc về thế giới của Ngài. Điểm này là đúng sự thực, vì nếu ta tu thân tích đức đủ, khi Thức của ta đã trở nên đồng đẳng với Thức tại cõi Phạm Thiên thì kiếp sau ta hoàn toàn có thể được đầu thai lên cõi Phạm Thiên và sống cùng cảnh giới với Đại Phạm Thiên hay Thượng Đế mà chúng ta vẫn hay gọi tên, đây được gọi là hưởng nước Thiên Đàng sống bên Chúa.
Nhưng có một điểm ở đây chưa chính xác đó chính là “đời đời”. Mặc dù một kiếp sống của Đại Phạm Thiên rất rất dài, nhưng nó cũng không thể kéo dài mãi mãi, khi Phúc Đức hết có thể chúng ta lại phải tái sinh trở lại làm người hoặc sinh vào một cảnh giới khác tùy theo phúc nghiệp, hay cõi Phạm Thiên cũng sẽ có lúc bị hủy hoại vì thế giới này không thoát khỏi quy luật Thành – Trụ – Hoại – Diệt.
Những tôn giáo thờ Chúa hay các vị thần vẫn sẽ luôn là những tôn giáo được tôn trọng, vì thứ nhất bản thân các vị Đại Phạm Thiên, Chúa hay các vị thần là những bậc công đức vô lượng đáng được chúng ta cung kính, thứ hai vì các tôn giáo này đã phản ánh đúng phần lớn sự thật của vũ trụ, và thứ ba, quan trọng nhất là các tôn giáo này vẫn luôn hướng con người đến làm việc thiện, tránh làm việc ác. Nhưng nếu bạn muốn đi đến tận cùng của sự thật, đi đến giải thoát hoàn toàn khỏi mọi đau khổ thì chúng tôi thấy rằng Đạo Phật là nơi lý giải được những câu hỏi này cho bạn.
Có một điểm khác biệt chủ chốt giữa các tôn giáo thờ Thượng Đế và Đạo Phật chính là câu trả lời cho câu hỏi, ai là người quyết định số phận của bạn?
Thực ra cái cảm giác có một đấng quyền năng để mình có thể gửi gắm số phận cuộc đời mình vào đó, dễ chịu và thoải mái hơn nhiều so với việc chính mình phải làm chủ cuộc đời mình.
Thực ra thì cho dù làm nhân viên hay làm chủ, nếu bạn vẫn tuân theo các tiêu chuẩn đạo đức thì cuộc đời bạn vẫn tốt đẹp dù bạn giữ chức vụ gì đi chăng nữa. Nhưng tâm thái của người phụ thuộc và của người làm chủ sẽ khác nhau khá nhiều. Nếu bạn tin rằng Thượng Đế quyết định cuộc đời bạn, bạn sẽ không hiểu tại sao mình sống tử tế mà vẫn bị Thượng Đế trừng phạt, hay bạn tự nhiên có được một phần thưởng nào đó dù bạn không làm gì, là do Thượng Đế tự nhiên quý bạn nên ban cho bạn. Bạn luôn ở thế bị động mà không hiểu tại sao.
Nhưng khi bạn biết bạn mới chính là chủ nhân của cuộc đời bạn chứ không phải là Thượng Đế thì cách bạn nhìn mọi vấn đề sẽ hoàn toàn khác. Thượng Đế không trừng phạt bạn vì bạn hiện đang sống tử tế, Ngài đang trừng phạt bạn vì lỗi lầm trước đây bạn gây ra. Ngài cũng không tự nhiên tặng quà bạn cho dù hiện giờ bạn đang chẳng làm việc gì tốt cả, Ngài tặng quà bạn vì thời gian trước bạn đã làm việc tốt. Luật Nhân Quả luôn công bằng, gieo nhân xấu hưởng quả xấu, gieo nhân tốt hưởng quả tốt, vấn đề chỉ là độ trễ về thời gian khiến cho nhiều người không hiểu nên kêu là Luật Nhân Quả công bằng ở đâu. Mọi thứ đều cần thời gian và Luật Nhân Quả cũng vậy, hạt giống Nhân cần thời gian phát triển để tạo thành Quả.
Bạn là người gieo Nhân, còn các yếu tố bên ngoài như các Chư Thiên, những người khác, Ma Quỷ,… là Duyên. Khi Nhân gặp Duyên sẽ sinh ra Quả. Ví dụ các Chư Thiên có thể quyết định thời điểm và cách thức bạn có được một món tiền nào đó. Nhưng món tiền đó to hay nhỏ lại phụ thuộc vào lượng phúc đức của chính bạn, chứ các Chư Thiên không hề làm ngẫu nhiên. Các Chư Thiên điều hành thế giới nhưng dựa trên phúc nghiệp của riêng từng người, tương tự như người quản lý dựa trên năng lực của từng người mà phân công công việc cho phù hợp với năng lực của họ, nếu họ chăm chỉ nâng cao trình độ, sẽ được chuyển lên các vị trí cao hơn, tiền lương cao hơn. Người quản lý chỉ sắp xếp vị trí, còn kiếm được bao nhiêu tiền lại do năng lực của chính người đó. Còn ta tuy là nhân viên, mặc dù rất tôn trọng người quản lý nhưng ta cũng hiểu rằng người quản lý sẽ chỉ trả lương trên năng lực của chính ta nên thực ra ta mới chính là ông chủ quyết định mức lương của chính mình, từ đó ta sẽ nỗ lực phát triển bản thân chứ không trách móc gì người quản lý nữa.
Khi bạn biết rằng tất cả đều dựa vào phúc nghiệp của bạn mà vận hành tạo thành số mệnh cuộc đời bạn và chính bạn – chính Thức (Ý Thức) của bạn tạo ra Sắc – Phúc Nghiệp cuộc đời mình thì bạn sẽ nhận ra chính bạn là chủ nhân của cuộc đời mình, bạn sẽ hết sức cẩn thận với các suy nghĩ của mình. Nếu chưa thể đạt đến mức không còn Thức (không nghĩ thầm) thì ít nhất hãy lựa chọn Thức Tốt (nghĩ thầm những điều tốt đẹp), không chọn Thức xấu (không nghĩ thầm những điều xấu xa).
6. Ý thức cá nhân và tập thể
Trong giáo lý của Phật, Thức (Ý Thức) sinh ra Sắc (Hình Tướng), nên Vũ Trụ này cũng là một dạng Sắc được sinh ra từ Thức. Thức này là một tổ hợp các Thức chứ không phải do riêng một Thức nào tạo thành. Cho nên trong Kinh Phật mới giải thích rằng Vũ Trụ này không phải do một vị Đại Phạm Thiên (Thượng Đế) tạo thành. Ta có thể hiểu rằng Sắc Vũ Trụ này là do tập thể Thức của toàn bộ chúng sinh trong Vũ Trụ này tạo thành chứ không phải do riêng Thức của một vị Đại Phạm Thiên nào tạo ra. Cho nên đừng bao giờ nghĩ rằng mình chỉ là một cá nhân nhỏ bé, mình suy nghĩ gì hay ý thức của mình ra sao cũng ảnh hưởng gì tới thế giới này đâu. Thực tế không phải vậy, vì Vũ Trụ này được tạo từ Thức tập thể và Thức của bạn cũng góp phần tạo nên Thức tập thể đó, nên hãy có trách nhiệm với Ý Thức của mình. Khi bạn có ý thức tốt tức là bạn cũng đang góp phần làm cho Vũ Trụ này tươi đẹp hơn và ngược lại.
Điều này cũng giải thích cho câu mây tầng nào gặp mây tầng đó, hay đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu, những ý thức tương đồng sẽ thu hút lẫn nhau tạo nên một ý thức cộng đồng hay cộng nghiệp. Chúng ta sẽ thường thu hút về những người có ý thức giống mình, khi ta thay đổi ý thức thì những người xung quanh ta cũng thay đổi theo một trong hai cách: hoặc là người cũ tốt lên theo ta, hoặc là người cũ rời đi để người mới tốt hơn đến. Nên nếu muốn thay đổi thế giới hãy thay đổi chính mình là vì thế. Bạn không thể trực tiếp thay đổi Thức của người khác, nhưng bạn có thể thay đổi Thức của chính mình, bằng cách đó, bạn có thể gián tiếp thay đổi những người khác và thế giới xung quanh bạn.
7. Linh Hồn và Ý Thức
Chúng tôi cũng muốn nói một chút về tính logic vi diệu của Phật Pháp.
Cái mà ta gọi là Linh hồn thực chất chỉ là một túi đựng các hạt giống Thức của muôn kiếp góp nhặt lại. Thức tan thì túi hạt đó tan vào hư vô và đó là điểm kết thúc hay còn gọi là Niết Bàn. Vậy Thức tan khi nào?
Logic của Phật Pháp là: Sắc sinh Thọ, Thọ sinh Tưởng, Tưởng sinh Hành, Hành sinh Thức, Thức lại sinh Sắc
Sắc –> Thọ -> Tưởng -> Hành -> Thức -> Sắc
Tạm hiểu ngắn gọn tương ứng là:
Hình tướng sinh Cảm giác, Cảm giác sinh Phân Biệt (sử dụng não phải), Phân Biệt sinh Suy Tư (sử dụng Não trái), Suy Tư sinh Nhận Thức (sự mặc định, kinh nghiệm), rồi từ Nhận Thức lại tạo ra Hình Tướng (ví dụ nghĩ rằng phải có con nên sinh ra con). (Xem các bài Kinh về vấn đề này tại nguồn tham khảo cuối bài viết).
Hình tướng -> Cảm giác -> Phân Biệt -> Suy Tư -> Nhận Thức -> Hình Tướng
Cái Sắc (Hình Tướng) đầu tiên được sinh ra bởi đâu? Bởi Thức (Nhận Thức)
Vậy cái Thức (Nhận Thức) đầu tiên được tạo ra bởi đâu? Bởi Sắc (Hình Tướng)
Vậy Thức và Sắc phải chăng chính là cặp nhị nguyên Âm Dương gây ra vòng luân hồi khổ đau. Âm sinh Dương, Dương sinh Âm, cứ thế luân hồi luẩn quẩn.
Vào 1 khoảnh khắc, âm dương cùng sinh ra và vòng luân hồi bắt đầu.
Muốn thoát khỏi luân hồi, thoát khỏi Lưỡng Nghi để trở về với Thái Cực thì chỉ có một cách duy nhất là không âm dương, không não phải não trái, không phân biệt suy tư, không còn Thức.
Nói thầm là khi ta sử dụng não phải và não trái để phân biệt và tư duy.
Thức tan khi ta ngừng phân biệt và suy tư, ngừng sử dụng não phải và não trái.
Thức tan khi ta dùng Tánh Giác, tức vùng sau não trái.
Thức tan khi ta NGỪNG NÓI THẦM.
NGUỒN THAM KHẢO:
– Suy tư là Nghiệp: Tạng Kinh Pali / Kinh Tăng Chi Bộ / Chương 6. Sáu Pháp/ V. Đại Phẩm/ (IX) (63) Một Pháp Môn Quyết Trạch
11. Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các nghiệp… cần phải biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt được nói như vậy. Do duyên gì được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý.”
– Tâm còn suy tưởng có hại: Tạng Kinh Pali / Kinh Trường Bộ / 9. Kinh Potthapàda (Bố-sá-bà-lâu)
(Potthapàda sutta)
17. Lại nữa này Potthapàda, khi Tỷ-kheo ở nơi đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này khi đứng tại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng, khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên, ta hãy đừng có suy tưởng”. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác không khởi lên, vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy, này Potthapàda, là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.”
Leave a comment