GẶP BẤT CÔNG CÓ NÊN ĐẤU TRANH?

Câu hỏi này có bao giờ bạn tự hỏi? Bạn đã có câu trả lời chưa? Bạn có muốn nghe một quan điểm từ người khác về vấn đề này?

Chúng tôi xin phép được trình bày quan điểm mang tính cá nhân của chúng tôi dựa trên những suy nghĩ của chúng tôi về quan điểm Phật Giáo.

Trước tiên, chúng ta hãy cùng đọc bài Kinh dưới đây. Đây là đoạn đầu tiên trong bài Kinh đầu tiên của Tạng Kinh tiếng Pali.

Trích Tạng Kinh Pali / Kinh Trường Bộ / Kinh Phạm Võng / Tụng phẩm thứ nhất:

Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Rājagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Lúc bấy giờ có Suppiya du sĩ ngoại đạo cũng đi trên con đường giữa Rājagaha và Nalandà cùng với đệ tử, thanh niên Brahmadatta. Suppiya, du sĩ ngoại đạo dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, hủy báng Pháp, hủy báng Tăng, còn đệ tử của du sĩ ngoại đạo Suppiya, thanh niên Brahmadatta, lại dùng vô số phương tiện tán thán Phật, tán thán Pháp, tán thán Tăng. Như vậy cả hai thầy trò nói những lời hoàn toàn tương phản nhau trong khi đi sau lưng đức Phật và chúng Tỷ-kheo.

….

– Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?

– Bạch Thế Tôn, không thể được!

– Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: “Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi”.

Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ, vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: “Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi”.

Này các Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai. Này các Tỷ-kheo, thế nào là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai?

(Tiểu Giới)…

(Trung Giới)…

(Đại Giới).

Đọc đoạn Kinh này bạn nghĩ sao về câu trả lời cho việc có nên đấu tranh khi gặp bất công không?

Theo suy nghĩ của chúng tôi thì câu trả lời là KHÔNG.

Khi gặp bất công không nên tức giận, khi được ca tụng không nên vui mừng. Vì cả tức giận lẫn vui mừng đều khiến tâm không tịnh, trí không sáng. Khi tâm ta tịnh được rồi thì việc cần làm là giải thích cho họ biết sự thật và khuyên họ giữ Giới.

1. Ví dụ thứ nhất

Giờ ta hãy đi đến ví dụ thứ nhất. Một người đến nhà ta và lấy trộm một món đồ yêu thích của ta. Bị ta bắt gặp, họ đe dọa sẽ hành hung ta. Ta nên làm gì? Hô to để làng nước biết đến bắt giúp tên trộm, để vừa không mất của vừa thực thi công lý bắt kẻ phạm tội?

Chúng tôi nghĩ khác. Trước tiên, chúng ta cần hiểu nguyên nhân sâu xa của việc ta bị trộm đồ. Tại sao có nhiều nhà mà tên trộm đó lại vào nhà ta? Nguyên nhân của Kết quả đó là gì? Phải chăng trong một tiền kiếp nào đó, khi ta vẫn còn vô minh, ta cũng từng đi ăn trộm nên kiếp này phải trả lại? Nghĩ được nguyên nhân thì cảm xúc tức giận sẽ không nổi lên trong tâm chúng ta nữa. Khi không nổi giận, tâm ta sẽ tĩnh, trí ta sẽ sáng. Ta có thể bình tĩnh nói với người lấy trộm rằng: “Nếu anh thật sự cần món đồ này thì hãy cầm lấy, nhưng tôi mong anh sẽ sớm từ bỏ con đường này để cuộc sống có thể tốt đẹp hơn về sau.”

Câu chuyện kết thúc. Không có cuộc hành hung nào diễn ra, chúng ta và tên trộm đều bảo toàn được tính mạng. Không có tên trộm nào được bắt đi theo công lý, nhưng chúng ta biết rằng chúng ta chỉ làm hết khả năng trong sự bình tĩnh và hiểu biết, phần còn lại hãy để nhân quả vận hành theo cách tinh vi và chính xác của nó – vượt ngoài tầm kiểm soát hữu hạn của chúng ta.

Câu hỏi đặt ra là nếu ai cũng như bạn thì nạn trộm cắp hoành hành và ai sẽ là người thực thi nhân quả, trừng phạt tên trộm đó? Vậy bây giờ chúng ta hãy cùng đi đến ví dụ thứ hai.

2. Ví dụ thứ hai

Có một người nông dân nghèo khó A bị địa chủ giàu có B cướp nông sản và chửi rủa thậm tệ. Một văn sĩ C đi qua thấy cảnh bất bình không chịu được, liền ra mặt bảo vệ người A trước mặt người B. Vì người C cũng chỉ là một văn sĩ quèn, không có quyền lực nên người B không sợ mà còn đe dọa người C rằng sẽ báo Quan Phủ bắt người C đi. Họ cùng đi đến Quan Phủ. Trường hợp thứ nhất họ gặp Quan Phủ C1. May mắn thay C1 là một quan liêm chính, tôn trọng nhân quả, thi hành chính nghĩa nên đây là câu trả lời cho câu hỏi ở ví dụ một là ai thực thi nhân quả, chính là những người nắm trong tay quyền hành, hoặc nhìn rộng hơn, có thể là các Chư Thiên dùng quyền năng của mình khiến cho đứa con của ông địa chủ B ăn chơi hư hỏng, đốt sạch tiền của ông ta. Vậy đó, nên bạn đừng lo công lý ở đâu, Nhân Quả là một quy luật ngầm vận hành vô cùng phức tạp và chính xác, ta không thể dùng tầm nhìn hạn hẹp của mình để nói rằng Nhân Quả không công bằng được. Nhưng thật không may, họ lại rơi vào trường hợp thứ hai, họ gặp quan phủ C2, một vị quan tham ô tiền của người B để xử sai cho người C, vậy là người C không cứu được người A mà lại còn bị phạt vạ lây.

Như vậy là không chỉ dừng lại ở một cuộc đấu tranh của A và B, hiện giờ ta có thêm một cuộc đấu tranh nữa của B và C. Nguyên nhân của hai cuộc đấu tranh này là gì? Có phải nó xuất phát từ lòng tham của cả ba người không? Chúng ta cùng đi phân tích tâm lý của cả ba nhân vật nhé.

Người A tham gì?

– Tham tài sản mình đã phải vất vả mới làm ra được nhưng bị cướp mất.

Người B tham gì? 

– Tham tài sản của người khác vì nghĩ rằng mình mạnh hơn, mình có quyền cướp.

Người C tham gì?

Người C nhìn bề ngoài thì không tham gì cả, hơn nữa còn hoàn toàn trượng nghĩa, chính trực. Nhưng đó chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm. Cái tham của người C vi tế hơn nhiều so với cái tham tài sản vật chất hữu hình thấy được bằng mắt thường:

– Tham sự đảm bảo trong tương lai. Vì người C sợ rằng một ngày nào đó người B cũng sẽ cướp tài sản của mình nên mình cần ngăn chặn từ bây giờ.

– Tham sự biết ơn từ người A. Việc tham cảm giác mình có giá trị với người khác xuất phát một phần từ tâm lý về sự thiếu thốn giá trị từ bên trong, nghĩ rằng mình cần phải tìm mọi cách để có lợi cho bên ngoài nhằm khẳng định mình có giá trị. Tâm lý muốn làm lợi cho người khác không sai, nhưng khi xuất phát từ tâm muốn tốt cho họ hơn là từ tâm tăng giá trị cho mình, thường sẽ khiến mình giúp họ theo một cách sáng suốt hơn, vì trí tuệ đó xuất phát từ vô ngã chứ không phải bản ngã.

– Tham cảm giác chiến thắng được người B – một kẻ mạnh hơn mình.

3. Bài học của mỗi người

Vậy tại sao ba người A, B, C này lại gặp nhau để mà đấu tranh? Phải chăng Nhân Quả đang thi hành Luật của nó? Một ví dụ giả định nguyên nhân tiền kiếp cho kết quả này để bạn có thể hình dung được phần nào cách nhân quả vận hành:

– Người A kiếp trước từng ở vị trí của người B bây giờ, là địa chủ nhưng cũng đi cướp bóc nên kiếp này nghèo khó, bị cướp lại.

– Người B kiếp trước từng là nông dân nghèo, bị cướp bóc nhưng nhẫn nhục, không oán hận tên cướp nên kiếp này được làm địa chủ giàu có.

– Người C kiếp trước từng được người A giúp đỡ và bị người B bắt nạt nên kiếp này muốn giúp lại người A và chiến thắng người B.

Vì cả 3 người A, B, C đều không nhìn lại bản thân mình, xem mình sai ở đâu, mình tham ở chỗ nào mà chỉ nhìn thấy cái sai, cái tham của người khác, nên diễn biến tiếp theo là những cuộc đấu tranh không ngừng của ba người này. 

Rồi một ngày người D xuất hiện, người này là một Phật tử. Người này lắng nghe câu chuyện và chỉ ra lòng tham và nguyên nhân tiền kiếp giả định của ba người, rồi đưa ra lời khuyên cụ thể như sau:

– Người A nên coi như sự mất tài sản này là sự trả nợ tiền kiếp. Trả hết thì sẽ không còn bị lấy cắp đi theo cách này hay cách khác nữa, với hai điều kiện là không được gieo thêm nhân lấy cắp và không được oán hận người lấy cắp vì nếu còn oán hận là ta còn nợ họ, còn nợ thì còn phải trả. Nếu người A đã hết nợ thì cho dù người B có muốn cướp cũng không thể cướp được của người A vì luật Nhân Quả cực kỳ chính xác và vi tế.

– Người B phải hiểu kiếp này mình được làm địa chủ là quả tốt mình nhận được từ nhân kiếp trước, nhưng mình đi cướp của họ là mình đang gieo nhân xấu cho kiếp sau của mình, kiếp sau mình lại bị hoàn cảnh như người A bây giờ nên mình cần dừng hành động sai trái này lại, đền bù tổn thất cho họ để chuộc lại lỗi lầm của mình.

– Người C cần hiểu rằng cách mình làm không giải quyết được tận gốc vấn đề. Ta không thể giải quyết được những vấn đề của người khác mà những vấn đề này cần tâm thức của chính họ quyết định. Ta chỉ có thể tác động vào tâm thức của họ để họ thay đổi chính bản thân họ chứ không phải tác động vào tâm thức của họ để họ đấu tranh với nhau, thậm chí tệ hơn, để gây nguy hiểm cho chính mình, để mình bước vào một cuộc đấu tranh tưởng rằng chính nghĩa nhưng thực ra là vô ích. Chúng ta phải dùng nước hòa bình để dập lửa chiến tranh. Chứ không phải dùng xăng trông cũng lỏng lỏng như nước hòa bình để đổ vào lửa chiến tranh, đó chỉ là thêm dầu vào lửa, làm lửa cháy to hơn, thậm chí lửa lan cháy cả bàn tay dính xăng của chính bạn. Chúng ta cần thận trọng khi dùng chiến tranh hay bạo lực để đàn áp chiến tranh. Đó có thể chỉ là hòa bình tạm bợ, khi mà kẻ địch tạm yếu đi, ta tạm mạnh lên. Nhưng khi thời gian qua đi, ta lại yếu đi, kẻ địch lại mạnh lên và nguyên nhân cốt lõi là lòng tham từ cả hai phía, sự tranh giành lợi ích vẫn còn đó thì chiến tranh sẽ lại tiếp tục nổi lên.

Link RD2 có trích đoạn Đế Thích sở vấn hỏi Phật nguyên nhân chiến tranh để hiểu rằng chiến tranh không chỉ xuất hiện ở cõi người mà còn ở nhiều cõi giới khác. Nơi đâu còn tham sân si thì mầm mống chiến tranh vẫn còn đó, đó mới là cái gốc của vấn đề.

Người C với quyền lực hạn hẹp của mình chỉ có thể giúp hai người A, B như sau:

– Khuyên nhủ về tinh thần cho cả người A và B thay đổi chính mình, khuyên họ ba lần mà họ không nghe thì thôi, không khuyên tiếp. Vì thường sau ba lần Phật khuyên ai đó mà họ không nghe thì Phật cũng thôi không khuyên bảo nữa. (Xem ví dụ ở nguồn tham khảo cuối bài viết)

– Giúp đỡ vật chất cho người A nghèo khó.

– Phát triển bản thân nâng cao sức mạnh, để mình có thể trở thành người có quyền lực thực thi công lý như người C1.

– Còn nếu không đủ quyền lực để phán xét người B như người C1 thì không nên đấu tranh với người B để tự bảo vệ bản thân. Vì bạn làm hại bản thân mình tức là bạn cũng đang làm hại một con người.

Hoặc người A và/hoặc người C có thể chủ động báo quan phủ và hi vọng gặp được C1. Nếu chẳng may gặp phải trường hợp như C2 – vị quan xử sai, thì người A và/hoặc người C vẫn có thể tìm đến một cấp cao hơn, hoặc một cơ chế minh bạch hơn để trình bày sự thật.

Còn nếu trường hợp cả một thể chế đều không liêm khiết hoặc vẫn có cá nhân muốn liêm khiết mà không được vì còn vướng thể chế chung thì tốt nhất người A và/hoặc người C nên từ bỏ. Theo quan điểm cá nhân của riêng chúng tôi, đôi khi một thể chế bất ổn cũng là cách nhân quả thực thi công việc của nó, đến lúc để mọi người nhận Quả cho Nhân mình đã gieo, hoặc có thể chu kỳ Thành – Trụ – Hoại – Diệt đang diễn biến một cách tự nhiên theo đúng quy luật của nó, đến giai đoạn Hoại để mở đường cho Diệt.

Trừ khi bạn nắm trong tay quyền lực đủ lớn để có thể tác động mạnh mẽ vào chu kỳ, còn nếu không, tốt nhất bạn nên chấp nhận thực tế. Vì dù còn yếu mà chọn một mình đối đầu với hệ thống lớn có thể là một dạng ảo tưởng sức mạnh bản thân – nhất là khi ta chưa thực sự nhìn rõ vị trí và khả năng của mình trong vòng xoay nhân quả; hoặc điều đó thể hiện một lòng tham khổng lồ khi nghĩ rằng có thể dùng sức mọn xoay chuyển được càn khôn. Đôi khi hoàn cảnh xã hội bất ổn cũng phản ánh những nghiệp quả tập thể đang đến kỳ chín muồi – và đó cũng là một phần trong sự vận hành tự nhiên của quy luật nhân quả.

Quả đúng là đôi khi một cánh bướm nhỏ vỗ cánh có thể rung động cộng hưởng tạo thành một trận cuồng phong. Nhưng bạn cần chắc rằng bạn đã là một chú bướm, chứ không còn là một chú sâu chưa có cánh, và hơn hết, hãy nuôi dưỡng hy vọng rằng, khi đủ duyên và hội đủ những tâm hồn cùng lý tưởng, bạn sẽ không đơn độc trong hành trình lan tỏa điều thiện lành.

Vậy còn người D thì sao, người D nghe có vẻ đạo đức thế sao chưa nhập Niết Bàn mà còn ở đây lên giọng dạy đời làm gì? Quả đúng là vì vẫn còn tham sân si nên vẫn còn ở lại đời này. Vậy người D tham gì?

– Người D tham cảm giác mình khôn ngoan hơn người khác.

– Người D tham cảm giác mình mạnh đến mức thay đổi được người khác.

Vì cái tham này nên người D có thể trở thành đối tượng bị chỉ trích, hiểu lầm hoặc phản kháng – vì sự can thiệp chưa đúng thời điểm, hoặc lời nói của mình chạm vào những tổn thương chưa sẵn sàng được chữa lành.

Vậy bài học của người D là gì?

– Không gieo hạt lành ở biển nước mênh mông, hạt sẽ thối mọt và điều đó trở thành một việc vô ích. Chỉ gieo hạt khi ta nhận thấy ít nhất trong tâm thức của người nghe không phải hoàn toàn là biển nước vô minh mà có một hòn đảo nhỏ xíu trên đó có một chút đất để ta có thể gieo hạt lành để thời gian qua đi, duyên đủ, hạt sẽ nảy mầm. Nên nếu bạn thấy nhận thức của họ có thể phần nào hiểu được những gì bạn nói thì mới khuyên, còn không thì thôi, đợi khi người đó đủ duyên, sẽ có một người khác đến nói cho họ hiểu.

– Tôn trọng hành trình của người khác. Để đến được chặng D này thì vô lượng kiếp trước ta cũng từng đi qua chặng A, B, C. Nếu ta ngạo mạn, gây nghiệp nặng, gieo nhân xấu, có thể ta lại phải quay lại chặng A. Ai cũng có hành trình của riêng mình. Cứ đi rồi sẽ đến và hành trình nào cũng cần thời gian của riêng nó. Đường đời thì quanh co khúc khuỷu, bạn ở chặng A không thấy được chặng B, chặng B không hiểu được chặng C, C không thể thấy được chặng D, nên khi bạn qua chặng C đến chặng D rồi thì đừng trách người đang ở chặng C tầm nhìn hạn hẹp không thấy chặng D. Bạn hồi ở chặng C cũng bị sương mù che dày đặc có nhìn thấy gì đâu, bạn chỉ có thể đi theo cách mà nhận thức khi đó của bạn dẫn dắt bạn. Việc người A phản kháng khi bị mất của là hoàn toàn hợp lý với nhận thức khi đó của họ. Hay việc ép một cái cây hôm nay là hạt giống, ngày mai phải thành cổ thụ luôn cũng là một loại vô minh, ảo tượng nực cười và không tôn trọng tiến trình của tự nhiên. Nên cho dù họ hiểu những gì bạn nói cũng đừng ép họ phải làm được luôn những điều đó.

4. Bốn mục đích đời người

Theo triết lý cổ xưa của Ấn Độ giáo (Vệ Đà), đời người được phân thành bốn mục tiêu (Purushartha):
1. Kama – Khoái lạc: đại diện cho các nhu cầu cơ bản về cảm xúc và hưởng thụ, thường gắn với tầng lớp lao động (Ví dụ: nông dân).
2. Artha – Mưu sinh: biểu trưng cho sự phát triển kinh tế, tài chính và an ninh, thường liên quan đến tầng lớp quản lý và sở hữu (Ví dụ: địa chủ).
3. Dharma – Trách nhiệm: nhấn mạnh đến đạo lý, công bằng, và sứ mệnh xã hội, thường đi đôi với những người nắm quyền và gánh vác cộng đồng (Ví dụ: quan lại).
4. Moksha – Giải thoát: thể hiện khao khát vượt khỏi luân hồi, giải thoát khỏi mọi ràng buộc – lý tưởng cao nhất dành cho người tu học (Ví dụ: tu sĩ).

Có người chỉ có một mục đích duy nhất từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, nhưng hầu hết chúng ta sẽ có từng mục đích khác nhau tùy từng giai đoạn của cuộc đời.

Bốn ví dụ về người A, B, C, D chúng tôi vừa kể ra tương ứng với bốn nhóm mục đích trên để bạn hiểu rằng, chúng ta sinh ra trên đời này với mục đích khác nhau, hành trình khác nhau nên hãy tôn trọng người khác và luôn cố gắng làm việc thiện để cho dù bạn đang đi trên con đường nào thì bạn cũng đang rắc những hạt giống tốt lành trên chặng đường bạn đi qua, để sau này khi ngoảnh lại, bạn sẽ thấy sau lưng mình là một con đường trải đầy hoa. Cảnh tượng đẹp đẽ đó khiến bạn mỉm cười…

5. Nhưng…

Tuy nhiên, những ví dụ bên trên chỉ là một vài tình huống đơn giản, cụ thể để chúng tôi có thể đưa ra góc nhìn mang tính cá nhân của mình. Trên thực tế ngoài cuộc sống, các tình huống thường phức tạp hơn nhiều và chúng tôi nghĩ rằng tùy hoàn cảnh mà cần có sự ứng biến hợp lý. Vì thực ra nhân quả vô cùng phức tạp mà chúng ta với trí tuệ hữu hạn đôi khi chỉ nhìn thấy lớp bề mặt hời hợt mà không nhìn thấy những lớp sâu trầm phía dưới. Ví dụ với tài sản thì ta có thể bỏ qua, nhưng những hành động kinh khủng ví dụ bạo hành tinh thần dài lâu thì ta cần phản kháng lại, hay như người B cầm dao chuẩn bị đâm ta, ta cũng để yên cho họ đâm thì không được.

Mặc dù quả thực có những bậc Thánh đã để kẻ khác đâm mà không oán hận, hay Phật dạy các Tỷ-kheo cho dù có kẻ khác cưa tay chân mình cũng không được sinh tâm oán hận (xem bài kinh cái cưa ở nguồn tham khảo bên dưới), nhưng chắc chắn ta với tâm của kẻ phàm phu sẽ oán hận nên ta và họ vẫn sẽ còn nợ nần nhau, nên điều đầu tiên cần làm vẫn phải là tự vệ, bảo toàn tính mạng trước, còn nợ nần nhau thì trả dần sau. Hay như người A nhìn thấy người B đánh đập vợ con mình thì cũng không thể đứng đó để nhìn họ tự giải quyết nợ nần với nhau được. Ta vẫn phải làm việc ta cần làm, đạo đức và trách nhiệm nói ta phải bảo vệ vợ con, vì đây là cộng nghiệp hay gọi là nợ nần chung lẫn nhau.

Nói chung, theo quan điểm của chúng tôi, với phàm nhân như chúng ta, những gì quan trọng như tính mạng, cơ thể thì vẫn cần đấu tranh để bảo vệ, những gì không quá quan trọng, có thể làm lại như tài sản nên mạnh dạn trả nợ luôn, tiếc của lúc đầu nhưng nhẹ nợ lúc sau.

Hôm đó, khi đi trên đường, mình nhìn thấy một dòng chữ in phía sau lưng áo của một người xa lạ:

“Karma has no deadline” – Nhân quả không có kỳ hạn.

Câu chữ đó dừng lại trong tim mình lâu hơn mình nghĩ.

Nó không trả lời câu hỏi “có nên đấu tranh không?”, nhưng gợi mở một điều:

Đôi khi, thay vì phản ứng, ta có thể lùi lại – không phải để thua, mà để gieo nhân khác.

Và từ điểm lùi đó, có thể một vòng nghiệp mới bắt đầu:

Không phải vòng lặp của khổ đau, mà là vòng xoắn ốc tăng trưởng nhẹ nhàng của trí tuệ – từ bi – và lựa chọn có ý thức.

————————–

Nhân quả không có kỳ hạn: Khi sự nhường nhịn trở thành trí tuệ

Chúng ta biết từ “nhượng bộ” – và những hình thức khác nhau của nó.

Chúng ta nhường nhịn trong tranh luận để giữ gìn sự hài hòa.

Chúng ta chấp nhận sau khi đã đấu tranh nhiều lần mà không được, không phải vì đồng ý, mà vì mệt mỏi.

Chúng ta nhún nhường trước áp lực để tránh xung đột.

Chúng ta đưa ra thỏa hiệp trong đàm phán để công việc tiếp tục tiến triển.

Và chúng ta nhượng bộ để xây nên một nhịp cầu – nơi cả hai bên cùng lùi lại một bước, để có thể tiến tới tương lai tươi đẹp phía trước cùng nhau.

Dù là hình thức nào, nếu sự nhượng bộ được chọn với sự tỉnh thức, nó sẽ không bao giờ là biểu hiện của yếu đuối, mà luôn là một biểu hiện của trí tuệ.

Hôm nay, khi đang đi trên đường, mình tình cờ nhìn thấy một dòng chữ in trên áo một người xa lạ:

“Karma has no deadline” – Nhân quả không có kỳ hạn.

Câu đó cứ lặp lại trong tâm trí mình. Mình tự hỏi: nó có ý nghĩa gì?

Có lẽ, nó nhắc chúng ta rằng không cần vội vã để trả nghiệp.

Nếu chúng ta biết lùi lại một chút, bằng sự chánh niệm và hiểu biết, ngay cả nghiệp cũng có thể song hành với chúng ta một cách nhẹ nhàng hơn. Giống như câu nói ở trên: “Và chúng ta nhượng bộ để xây nên một nhịp cầu – nơi cả hai bên cùng lùi lại một bước, để có thể tiến tới tương lai tươi đẹp phía trước cùng nhau.” Chẳng phải đó là câu chuyện đẹp đẽ của chính ta và Karma – Nghiệp của ta sao? Karma đã không ra deadline (hạn chót) – tức Karma đã lùi một bước, vậy hà cớ gì ta lại không cũng lùi một bước, gieo một hạt thiện lành? Chẳng phải đó là một câu chuyện dịu dàng và kết thúc có hậu – nơi ta và nghiệp không còn ở hai chiến tuyến – mà là hai người bạn cùng học cách bước về ánh sáng?

Chúng ta có thể “nhượng bộ” bằng cách ý thức về nghiệp, rồi tạo ra những hành động tốt – gieo nhân lành mới để lấp đầy khoảng không gian sắp tới sẽ đến.

Khi thời điểm quả xấu của quá khứ trổ ra, nhưng khoảng không gian tương lai đó đã được ta lặng lẽ lấp đầy từ trước bằng các quả thiện, những quả thiện đó do nhân thiện ta gieo từ bây giờ, thì khi đó quả đắng ấy sẽ không còn chỗ để bám vào, và sẽ tự rơi đi.

Đó là lý do vì sao nhân quả không có kỳ hạn.

Nó luôn để dành cho ta một khoảng thời gian – một cơ hội – để sửa chữa sai lầm, nếu ta thực sự muốn chuyển hóa.

************************

Phật thường khuyên ba lần: Tạng Kinh Pali/Kinh Tương Ưng Bộ/10.X. Cetiya (Ðền thờ) (Trường 2, Ðại 1, 15 b-c) (S.v,258)

8) Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay Udena!… có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.

9) Tuy vậy, Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu… vì tâm của Tôn giả Ananda bị Ác ma ám ảnh.

10) Rồi Thế Tôn nói Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, hãy đi và làm những gì Ông nghĩ là phải thời.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.”

Cái cưa: Tạng Kinh Pali/Kinh Trung Bộ/21. Kinh ví dụ cái cưa (Kakacùpama Sutta)

Chư Tỷ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỷ-kheo các Ông phải học tập như sau: “Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân”. Chư Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy.

Và này chư Tỷ-kheo, nếu các Ông luôn luôn suy tư lời dạy ví dụ cái cưa này, thì này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy loại ngôn ngữ nào, dầu tế nhị hay thô bạo mà các Ông không kham nhẫn được chăng?

— Bạch Thế Tôn, không.

— Chư Tỷ-kheo, do vậy, hãy luôn luôn suy tư lời dạy ví như cái cưa này, và các Ông sẽ được hạnh phúc an lạc lâu ngày.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Leave a comment